Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Tổng quan về các Adjustment Layer trong Photoshop


Bài viết sẽ giới thiệu một cách tổng quát về những adjustment layer trong photoshop , để các bạn mới học photoshop có 1 cái nhìn tổng thể hơn về chúng , hiểu rõ chúng dùng để làm gì , trong trường hợp nào là thích hợp nhất !
Mình viết bài này trên bản Photoshop CS5 nhé.



Adjustment layer dịch sát nghĩa ra là những ''lớp điều chỉnh'' , ta sử dụng nó như những layer riêng biệt và edit màu sắc cho tấm ảnh mà không bị ảnh hưởng 1 chiều , nghĩa là ta có thể thay đổi , xoá bỏ hay thậm chí là giảm opacity 1 cách linh hoạt và chủ động , như những layer thông thường khác .





Hoặc ta cũng có thể vào Layer > New Adjustment Layer


1. GRADIENT MAP
Sức mạnh chủ yếu của Gradient Map chính là sự phân phối và dàn trải 3 vùng màu : Shadow , Midtones , Highlight một cách tự động hoá . Ta hiểu nôm na nó là những dải màu tự động :



Nhìn hình , ta thấy ảnh được chia ra 2 dải shadow và highlight rõ ràng ( tím và cam ) .


Trên thanh trượt , phần màu tím phía bên trái là vùng shadow , và vùng màu cam phía bên phải là vùng highlight , đó là dãy gradient 2 phân vùng .


Đây là dãy gradient 3 phân vùng , và phần giữa chính là midtones ( vùng trung tâm giữa shadow và highlight )


Đây là dãy gradient nhiều phân vùng ( cũng chỉ là shadow , midtones , highlight nhưng nó phân bố 1 cách rời rạc và chi tiết hơn , độ phức tạp cao hơn )

Lưu ý : Ấn và giữ phím Alt rồi click vào thanh trượt để chia slider làm 2 phần .


Những nút thanh trượt để ta phân bố những vùng với nhau , kéo nút tím bên trái sang phải thì vùng màu shadow sẽ chiếm diện tích nhiều hơn .

Sau khi phân bố các vùng màu xong , việc tiếp theo là lựa chọn Blending Mode và điều chỉnh opacity theo ý đồ lên tone màu của mình sao cho phù hợp .

Ở phần tuỳ chọn Gradient Type có 2 kiểu : Solid và Noise . Chúng ta nên chọn mặc định của nó là Solid .
Nút LOAD để tìm đến và sử dụng những style Gradient sưu tầm trên mạng hoặc do ta preset cho riêng mình .
Nút SAVE để lưu lại preset .


2. COLOR BALANCE :
Color Balance là công cụ cân chỉnh màu sắc mạnh mẽ nhất trong các adjustment layer vì sự đa năng của nó .
Nếu hiểu được nguyên lí và biết cách sử dụng nó thật hiệu quả thì ảnh của bạn sẽ càng thêm phần sống động và có chiều sâu ( trong manip hoặc blend màu chẳng hạn ) .


Nguyên lí làm việc của nó là cân bằng màu sắc ở 3 vùng : shadow , midtones , highlight đúng như cái tên của nó .


Nó có thể thay đổi toàn bộ diện mạo màu sắc của tấm ảnh , như hình minh hoạ thì có thể thấy nó đã khử hết những gam màu nóng đi , phủ lên màu lạnh theo ý đồ của mình .

Trong 1 số trường hợp , nó còn dùng để khử màu trên ảnh dạng portrait :


Nhìn ảnh , color balance hoàn toàn có thể làm thành từ trái sang phải hoặc cũng có thể là ngược lại , nghĩa là nó có thể khử màu nóng trên người model và cũng có thể tăng thêm màu nóng cho model .
Để khử màu nóng , ta kéo thanh trượt về phía màu lạnh ( cyan và blue ... ) và ngược lại nếu muốn tăng màu nóng thì kéo về phía màu nóng ( red , yellow ... )
Ở những dạng ảnh chân dung , da mod dư màu nóng hay lạnh thường được quyết định ở midtones và highlight , ta chỉ việc cân chỉnh ở 2 kênh này là được .

Color Balance thường rất hiệu quả khi áp dụng trong những ảnh dạng landscape , đôi khi không cần quá nhiều thao tác , quá rườm rà mà vẫn làm cho ảnh thêm ấn tượng :



Tấm này mình chủ yếu sử dụng color balance để lên màu ( tạo nhiều layer color balance chồng lên nhau + kết hợp với xoá mask ) , thật sự rất mạnh mẽ và hiệu quả rất cao :


Color Balance có 2 tuỳ chọn hiệu chỉnh , đó là :
_ Chọn hộp kiểm Preserve Luminosity : Khi ta hiệu chỉnh màu sắc thì độ sáng của ảnh cũng bị thay đổi theo .
_ Bỏ chọn hộp kiểm Preserve Luminosity : Hiệu chỉnh màu sắc nhưng độ sáng của ảnh vẫn được giữ nguyên (bảo toàn) .


3. PHOTO FILTER :



Như tên của nó , Filter nghĩa là lọc màu , nếu biết cách sử dụng nó , bạn sẽ thấy hiệu quả thật không ngờ .

Mặc định , Photoshop cung cấp 1 số preset , đó là những mã màu chuẩn và thường hay dùng nhất , nhưng ta có thể tuỳ chỉnh màu theo ý mình bằng cách nhấp vào tuỳ chọn color :



Ví dụ về cách sử dụng thật hiệu quả :


Như hình , mình sử dụng Photo Filter với Blending Mode là Darken và mã màu là xanh biển , ép màu trời và màu của nước biển xanh lên 1 cách tự nhiên và trông khá là ấn tượng . Nhưng nếu bạn chọn Blending là Normal thì kết quả sẽ không được như vậy .

Kết quả sau cùng :



Ví dụ khác :


Mình chọn màu Orange với Blending Mode là Lighten , kết quả là ảnh được đánh lên màu cam như 1 buổi hoàng hôn , mình thường hay dùng phương pháp này để làm màu hoàng hôn rực lửa .

Sức mạnh của Photo Filter chính là ép màu thật mạnh và hiệu quả ( mình dùng từ ''ép'' ở đây theo cách hiểu của mình thôi vì nó đúng trong trường hợp này )

Ta nên sử dụng nó kết hợp với các blending mode một cách linh hoạt sẽ cho kết quả cao hơn .


4 . SELECTIVE COLOR :



Điều chỉnh những kênh màu 1 cách riêng biệt mà không bị ảnh hưởng dây chuyền chính là hiệu quả của selective color . Nếu sử dụng Color Balance có thể làm cho màu bị liền lạc khi điều chỉnh thì với selective color thì không , nó rất hiệu quả trong việc ''chọn lọc'' màu .

Có 9 kênh màu : Reds , Yellows , Greens , Cyans , Blues , Magentas , Whites , Neutrals , Blacks .
Mình để ý thấy sau mỗi từ lại có thêm chữ ''s'' đằng sau , tại sao ?
Vì trong mỗi kênh này lại đươc cấu thành bởi 4 kênh màu nhỏ nữa là Cyan , Magenta , Yellow , Black .


Lưu ý : Mình dùng từ kênh theo cách gọi dễ hiểu nhất của riêng mình , để dễ hình dung


Ta có thể dùng selective color để khử màu 1 cách hiệu quả không kém gì so với color balance . Màu da mod thường được quyết định ở kênh Red , Yellow và Magenta :


Điều chỉnh màu nước biển và bầu trời 1 cách dễ dàng , chú ý 2 kênh Cyan và Blue vì chúng thường được quyết định nhiều ở 2 kênh này .



Trong Selective Color có 2 kiểu tuỳ chọn để hiệu chỉnh màu sắc :

Abosolute là phương pháp hiệu chỉnh tuyệt đối : Nghĩa là bất cứ màu nào cũng có thể hòa trộn được với 4 màu Cyan, Magenta, Yellow và Black và cách tính là tuyệt đối.

Relative là phương pháp hiệu chỉnh tương đối : Nghĩa là không phải bất cứ màu nào cũng có thể có thể hòa trộn với 4 màu Cyan, Magenta, Yellow và Black (màu trắng không thay đổi cho dù kéo thanh trượt nào) và cách tính là tương đối.


5. BLACK & WHITE :
Như cái tên của nó , kiểu adjustment này chuyển ảnh sang 2 màu đen và trắng :


Kéo những thanh trượt của những kênh màu để thấy sự thay đổi của nó .
Trong 1 số trường hợp , B&W còn dùng để làm trong ảnh , ví dụ :


Mình tạo 1 layer B&W và chọn Blending Mode là Softlight với Opacity 60% , ta có thể thấy rõ sự thay đổi của ảnh , nhìn ảnh trong hơn và được tăng thêm contrast .
Bạn hãy thử tạo 1 layer black&white , chọn chế độ trộn là Luminosity , phương pháp này sẽ không ảnh hưởng gì đến màu sắc khi ta điều chỉnh các thanh trượt mà chỉ ảnh hưởng đến độ sáng và độ tương phản của tấm ảnh thôi.


6. HUE/SATURATION :


Kiểu adjustment này dùng để kiểm soát độ sặc sỡ và độ bão hoà của màu sắc tấm ảnh , nghĩa là làm nhạt màu của ảnh đi hoặc là làm cho sặc sỡ và đậm lên .


Khi ta chọn kênh màu , để ý thanh trượt ở dưới , nó sẽ định vị vùng màu mà ta sẽ chọn .
Hay ta có thể nhấp vào hình bàn tay để dò tìm mã màu 1 cách thủ công .





7. VIBRANCE :
Chức năng này để điều hoà độ sống động của màu sắc trong tấm ảnh , khi tăng vibrance thì đồng thời cũng tăng saturation ( độ bão hoà ) theo tỉ lệ thuận .

Về cơ bản , nó có phần giống với Hue/Saturation ở tác dụng làm nhạt màu hoặc là làm cho sặc sỡ lên .
Sử dụng nó để thấy màu sắc của ảnh trông sống động hơn rất nhiều .





8 . THRESHOLD :


Mình ít khi sử dụng chức năng này , chỉ dùng nó để xác định điểm sáng nhất và tối nhất của tấm ảnh :
Kéo slider sang trái cho đến khi xuất hiện điểm tối nhất .


Và ngược lại , kéo slider sang bên phải cho đến khi xuất hiện điểm sáng nhất .



Sau đó , ta đánh dấu lại 2 điểm sáng nhất và tối nhất này bằng công cụ Color Sample Tool .






Tuy nhiên , không phải ta cứ kéo maximum là được , mà phải dựa vào biểu đồ mà kéo slider , như thế này :




9. EXPOSURE :
Các thuật ngữ trong adjustment này thiên về nhiếp ảnh nhiều hơn ( Độ phơi sáng ) , và thường hay dùng để pha ra những kiểu màu bị mờ đục (có 1 lớp màng đục phủ lên ảnh) nhưng lại trông rất nghệ thuật , như màu retro chẳng hạn , mà ta thường hay gọi là ảnh có offset cao .
Thanh Exposure : Hiệu chỉnh thêm hoặc giảm thời gian của độ phơi sáng.
Thanh Offset : Chỉnh độ sáng hoà trộn cùng với màu sắc.
Thanh Gamma Correction : Chỉnh sắc độ ánh sáng và màu sắc .
Phía dưới bên trái có 3 ống hút dùng để lấy mẫu màu đen , gray và trắng trong tấm ảnh .




10 . VARIATIONS :



Kiểu adjustment này thường được dùng cuối cùng của công việc edit ảnh , với cửa sổ làm việc trực quan , ta có thể thấy sự thay đổi thật rõ ràng . Khi ta nhấp vào màu nào thì khung ảnh nằm ở giữa ( Current Pick ) sẽ thay đổi cho ta thấy sự biến đổi ( được tăng cường thêm gam màu đó ) .

Chú ý 4 nút tuỳ chỉnh là : shadows , midtones , highlight , saturation ( cũng tựa tựa như color balance ) .
Thanh trượt ( Fine - Coarse ) để điều chỉnh độ biến đổi của màu sắc mạnh hay yếu . Nếu ta kéo slider sang bên trái ( về phía Fine ) thì cường độ biến đổi màu sắc sẽ giảm đi , nếu ta kéo về bên phải ( về phía Coasre ) thì cường độ biến đổi màu sắc sẽ mạnh hơn .


11. CHANNEL MIXER :
Channel Mixer nghĩa là trộn kênh , nó dùng để điều hòa lại cường độ của 3 kênh màu , đôi khi nó vẫn được dùng trong công việc blend màu , và còn dùng để in ấn .
Nguyên lí làm việc cũng giống như 3 kênh màu trong Curver , lựa chọn các blending mode linh hoạt để cho ra kết quả tốt nhất .
Lưu ý : Nhấp chọn hộp kiểm Monochrome để chuyển ảnh sang dạng Gray .

Khi ta kéo thanh trượt sang phía bên phải ( vùng sáng ) , nghĩa là kênh Red sẽ sáng lên , ảnh bị ám đỏ khá rõ . Hãy nhìn sự thay đổi về độ sáng tối trên mỗi thanh trượt , ta có thể hiểu rõ ngay .


Tương tự , kéo kênh Blue sang phải , ảnh sẽ bị ám tím đi .





12. CURVES :
Đây là kiểu adjustment dùng để tăng tương phản , tăng sáng tối và làm trong ảnh 1 cách mạnh mẽ nhất . Sử dụng biểu đồ để cho ra kết quả theo ý muốn .

3 ống hút được khoanh tròn dùng để xác định điểm màu tối nhất , sáng nhất và điểm trung tính trong tấm ảnh .

Nút Auto : Chương trình sẽ tự động điều chỉnh theo hướng tối ưu nhất cho ảnh của bạn , nhưng mình chẳng bao giờ dùng đến nó , chúng ta nên điều chỉnh thủ công để cho ra kết quả theo ý mình mong muốn .



Histogram cho ta biết được ảnh đã đúng tonal range hay chưa , ví dụ như hình bên dưới , mình kéo 2 nút trượt để đúng với tonal của nó , và khi đó ảnh sẽ được cân bằng sáng tối và contrast :



Ngoài ra , nó được dùng để blend màu nếu ta thật sự chuyên nghiệp ( xử lí 3 kênh màu 1 cách nhuần nhuyễn ) , có 1 số tấm ảnh được lên màu rất đẹp mà chỉ cần dùng curves là xong .




13. LEVEL :
Cũng giống như curves , đây cũng là công cụ để tăng tương phản và sáng tối bằng cách kéo 3 nút trượt . Kéo nút trượt bên phải sang trái ( núm trắng ) thì ảnh sẽ tăng sáng , kéo nút bên trái ( núm đen ) sang phải thì vùng tối được tăng cường , nút giữa ( xám ) là điểm trung tính giữa sáng và tối .
3 ống hút dùng để dò tìm shadow , midtones và highlight thủ công .
Thanh trượt Output Level để ta quyết định giá trị cao nhất sẽ đạt được , giới hạn từ 0 - 255




14. BRIGHTNESS/CONTRAST :
Không có gì khác so với level và curves , nhưng nó chỉ cho phép ta hiệu chỉnh dãy sáng trên 1 chiều thẳng và ko có nhiều tuỳ biến , ko thể điều chỉnh dãy sáng trên 1 vùng riêng biệt , bên cạnh đó ta nên chú ý một chút cái hộp kiểm Use Legacy . Mặc định thì photoshop bỏ chọn hộp kiểm này , xem ảnh để thấy 2 sự khác biệt rõ rệt . ( Theo mình thì trong trường hợp này sử dụng mặc định là tốt nhất )






15. SOLID COLOR :
Nó chẳng khác gì đổ 1 thùng sơn lên 1 bề mặt ( người ta hay gọi là fill màu ) :


Nhưng nếu ta sử dụng blending mode và opacity 1 cách linh hoạt thì sẽ cho ra kết quả không ngờ :




0 nhận xét:

Đăng nhận xét